Home » Tin tức » Thuế » Thuế TNCN » Quy định mới về thuế thu nhập cá nhân năm 2015

Quy định mới về thuế thu nhập cá nhân năm 2015

Ngày 26 tháng 11 năm 2014 Quốc hội đã ban hành Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế và có hiệu lực từ ngày 01/01/2015. Vậy Quy định mới về thuế thu nhập cá nhân năm 2015 sẽ có những thay đổi mới nào ?

1.  Đối với thu nhập chịu thuế.

1.1 Căn cứ theo Luật số 71/2014/QH13 tại Điều 2, Khoản 1 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 3 về thu nhập chịu thuế như sau:

 “1. Thu nhập từ kinh doanh, bao gồm:

a) Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ;

b) Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật.

Thu nhập từ kinh doanh quy định tại khoản này không bao gồm thu nhập của cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống.”.

Căn cứ theo quy định trên thì thu nhập của cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 100 triệu đồng/ năm trở xuống không phải là thu nhập chịu thuế TNCN.

1.2 Căn cứ theo Luật số 04/2007/QH12 tại Điều 3, Khoản 6, Điểm c quy định như sau:

“c) Trúng thưởng trong các hình thức cá cược, casino;”

Căn cứ theo Luật số 71/2014/QH13 tại Điều 2, Khoản 2 Sửa đổi điểm c khoản 6 Điều 3 như sau:

“c) Trúng thưởng trong các hình thức cá cược;”.

Căn cứ theo các quy định trên thì trúng thưởng casino sẽ không phải chịu thuế TNCN, và chuyển sang áp thuế và tăng thuế TTĐB.

2. Thu nhập được miễn thuế.

Căn cứ theo Luật số 71/2014/QH13 tại Điều 2, Khoản 3 Bổ sung khoản 15 và khoản 16 vào Điều 4 thì bổ sung thêm các khoản thu nhập được miễn thuế như sau:

– Thu nhập từ tiền lương, tiền công của thuyền viên là người Việt Nam làm việc cho các hãng tàu nước ngoài hoặc các hãng tàu Việt Nam vận tải quốc tế.

– Thu nhập của cá nhân là chủ tàu, cá nhân có quyền sử dụng tàu và cá nhân làm việc trên tàu từ hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ trực tiếp phục vụ hoạt động khai thác, đánh bắt thủy sản xa bờ.”.

3. Thuế đối với cá nhân kinh doanh.

Căn cứ theo Luật số 04/2007/QH12 tại Điều 10 quy định như sau:

“Điều 10. Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh

1. Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh được xác định bằng doanh thu trừ các khoản chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập chịu thuế từ kinh doanh trong kỳ tính thuế.”

Căn cứ theo Luật số 71/2014/QH13 tại Điều 2, Khoản 4 Sửa đổi Điều 10 như sau:

“Điều 10. Thuế đối với cá nhân kinh doanh

1.  Cá nhân kinh doanh nộp thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ trên doanh thu đối với từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh.”

Căn cứ theo các quy định trên thì các hộ gia đình, cá nhân kinh doanh sẽ thực hiện nộp thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ % trên doanh thu hay còn gọi là nộp thuế khoán đối với từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh thay vì cách tính thu nhập chịu thuế từ kinh doanh bằng doanh thu trừ các khoản chi phí hợp lý.

Căn cứ theo Luật 71/2014/QH13 quy định về thuế suất thuế thu nhập cá nhân đối với từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh như sau:

– Phân phối, cung cấp hàng hóa: 0,5%

– Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 2% (Riêng hoạt động cho thuê tài sản, đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, đại lý bán hàng đa cấp: 5%).

– Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 1,5%

– Hoạt động kinh doanh khác: 1%

4. Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn.

Căn cứ theo Luật số 04/2007/QH12 tại Điều 13 quy định thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn như sau:

“Điều 13. Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn

1. Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn được xác định bằng giá bán trừ giá mua và các khoản chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ chuyển nhượng vốn.

2. Trường hợp không xác định được giá mua và chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng chứng khoán thì thu nhập chịu thuế được xác định là giá bán chứng khoán.”

Căn cứ theo Luật số 71/2014/QH13 tại Điều 2, Khoản 5 Sửa đổi Điều 13 như sau:

“Điều 13. Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn

1. Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn được xác định bằng giá bán trừ giá mua và các khoản chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ chuyển nhượng vốn.

Đối với hoạt động chuyển nhượng chứng khoán, thu nhập chịu thuế được  xác định là giá chuyển nhượng từng lần.”

Căn cứ theo các quy định trên thì thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng chứng khoán được xác định là giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần. Trước đó theo luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 thì thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng chứng khoán được xác định bằng hai cách thứ nhất là bằng giá bán trừ giá mua và các khoản chi phí hợp lý liên quan hoặc được xác định bằng giá chuyển nhượng từng lần.

5. Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản.

Căn cứ theo Luật số 04/2007/QH12 tại Điều 13 quy định thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn như sau:

“Điều 14. Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản

1. Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản được xác định bằng giá chuyển nhượng bất động sản theo từng lần chuyển nhượng trừ giá mua bất động sản và các chi phí liên quan, cụ thể như sau:

a) Giá chuyển nhượng bất động sản là giá theo hợp đồng tại thời điểm chuyển nhượng;

b) Giá mua bất động sản là giá theo hợp đồng tại thời điểm mua;

c) Các chi phí liên quan được trừ căn cứ vào chứng từ, hoá đơn theo quy định của pháp luật, bao gồm các loại phí, lệ phí theo quy định của pháp luật liên quan đến quyền sử dụng đất; chi phí cải tạo đất, cải tạo nhà, chi phí san lấp mặt bằng; chi phí đầu tư xây dựng nhà ở, kết cấu hạ tầng và công trình kiến trúc trên đất; các chi phí khác liên quan đến việc chuyển nhượng bất động sản.

2. Trường hợp không xác định được giá mua và chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng bất động sản thì thu nhập chịu thuế được xác định là giá chuyển nhượng bất động sản.

Căn cứ theo Luật số 71/2014/QH13 tại Điều 2, Khoản 5 Sửa đổi Điều 13 như sau:

“Điều 14. Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản

1. Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản được xác định là giá chuyển nhượng từng lần. 

2. Chính phủ quy định nguyên tắc, phương pháp xác định giá chuyển nhượng bất động sản.

3. Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực theo quy định của pháp luật.”.

Căn cứ theo các quy định trên thì thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản được xác định là giá chuyển nhượng bất động sản từng lần. Trước đó theo luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 thi thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản được xác định bằng hai cách thứ nhất là bằng giá chuyển nhượng bất động sản theo từng lần chuyển nhượng trừ giá mua bất động sản và các chi phí liên quan hoặc được xác định bằng giá chuyển nhượng từng lần.

6. Thay đổi về biểu thuế toàn phần

Căn cứ theo Luật số 71/2014/QH13 tại Điều 2, Khoản 7 sửa đổi , bổ sung khoản 2 Điều 23 về biểu thuế toàn phần:

Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản với mức thuế suất là 2%. Trước đây theo Luật số 04/2007/QH12 thì thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản chia thành 2 trường hợp: 25% và 2%

Tiếp theo

Hướng dẫn khai thuế đối với chi nhánh hạch toán phụ thuộc

Hướng dẫn khai thuế đối với chi nhánh hạch toán phụ thuộc

Trên thực tế, có nhiều đơn vị, công ty lập các chi nhánh tại các …