Home » Tin tức » Thuế » Thuế khác » Những thay đổi cơ bản về bảo hiểm thất nghiệp 2015

Những thay đổi cơ bản về bảo hiểm thất nghiệp 2015

Từ ngày 01/01/2015 chế độ về bảo hiểm thất nghiệp sẽ được thực hiện theo Quy định của Luật việc làm 2013 thay cho quy định của Luật Bảo hiểm Xã Hội. Vậy những thay đổi cơ bản về bảo hiểm thất nghiệp 2015 như thế nào ? Đại lý thuế Công Minh chia sẻ:

Quy định về đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

– Theo Quy định hiện hành tại Điều 2, Điều 3 Nghi định 127/2008/NĐ-CP đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp là người sử dụng lao động sử dụng từ 10 người lao động trở lên và có hợp đồng xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến ba mươi sáu tháng hoặc hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

– Theo Quy định mới tại Luật Việc Làm 2013, tại Điều 43 quy định về đối tượng tham gia BHTN đã mở rộng thêm đối tượng tham gia BHTN như sau: Ngoài những quy định về những người lao động có hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn hoặc hợp đồng làm việc có xác định thời hạn thì phải đóng BHTN còn có những quy định mới như sau:

+ Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.

+ Người lao động đang hưởng lương hưu, giúp việc gia đình thì không phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

+ Bỏ quy định doanh nghiệp trên 10 lao động thì mới phải đóng BHTN do đó bất cứ người sử dụng lao động có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng làm việc hoặc hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật Viêc Làm 2013 đều phải đóng BHTN.

Đối với NLĐ làm việc theo hợp đồng mùa vụ thì để được hưởng BHTN, họ phải có đủ 12 tháng tham gia BHTN trong vòng 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng (đối với các loại hợp đồng khác thì điều kiện này là có đủ 12 tháng tham gia BHTN trong vòng 24 tháng trước khi chấm dứt).

Tiền lương làm căn cứ đóng BHTN

– Hiện tại: Theo quy định tại Nghị định 127/2008/NĐ-CP tại Điều 27 quy định về mức lương đóng BHTN như sau:

“2. Người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

3. Trường hợp mức tiền lương, tiền công tháng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cao hơn 20 tháng lương tối thiểu chung thì mức tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp bằng 20 tháng mức lương tối thiểu chung tại thời điểm đóng bảo hiểm thất nghiệp.”

– Từ 01/01/2015: Theo quy định tại Luật Việc làm 2013 tại Điều 58, Khoản 2 quy định tiền lương làm căn cứ đóng BHTN như sau:

“2. Người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thực hiện theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội. Trường hợp mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp cao hơn hai mươi tháng lương tối thiểu vùng thì mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp bằng hai mươi tháng lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động tại thời điểm đóng bảo hiểm thất nghiệp.”

Quy định trên khác với quy định hiện tại là bằng 20 tháng lương tối thiểu chung.

Điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp

Theo quy định tại Luật Việc làm, tại Điều 49 NLĐ chỉ được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện có phần chi tiết, khắt khe hơn so với quy định hiện tại, cụ thể:

1. Khi chấm dứt HĐLĐ, trừ các trường hợp sau đây:

– NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật;

– Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng.

2. Đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ đối với HĐLĐ không xác định thời hạn và HĐLĐ xác định thời hạn. “Đối với HĐLĐ theo mùa vụ hoặc công việc có thời hạn từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng, NLĐ phải đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ.”

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp, trừ một số trường hợp như: thực hiện nghĩa vụ quân sự; bị tạm giam hoặc chấp hành hình phạt tù,…

Mức và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Theo quy định mới, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của NLĐ bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp “nhưng tối đa không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định tại thời điểm chấm dứt HĐLĐ”, trong khi quy định hiện tại không giới hạn về mức tối đa.

2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng BHTN. Theo đó, NLĐ đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 3 tháng trợ cấp thất nghiệp. Sau đó, cứ mỗi 12 tháng đóng đủ thì NLĐ được hưởng thêm 1 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tổng thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa là không quá 12 tháng.

So với hiện nay nếu đóng BHTN từ tháng thứ 36 là đã được lãnh 6 tháng lương bảo hiểm thất nghiệp chứ không phải đóng đủ 72 tháng mới lãnh được 6 tháng lương thất nghiệp theo qui định từ 01.01.2015.

Chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp

Các trường hợp chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại Luật Việc làm kế thừa các quy định hiện hành tại Luật BHXH và có bổ sung một số trường hợp như: NLĐ thực hiện nghĩa vụ công an; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật BHTN; bị tòa án tuyên bố mất tích; bị tạm giam.

Trong một số trường hợp chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp như: do tìm được việc làm, thực hiện nghĩa vụ quân sự,… NLĐ được bảo lưu thời gian đóng BHTN làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo khi đủ điều kiện.

Trong khi theo quy định hiện tại, NLĐ sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp một lần bằng giá trị còn lại của trợ cấp thất nghiệp

Tiếp theo

Cách tính thuế GTGT cho nhà thầu nước ngoài

Cách tính thuế GTGT cho nhà thầu nước ngoài

Đối với những nhà thầu nước ngoài khi thực hiện dự án đầu tư vào …