Công văn 675/TCT-KK về hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư

Ngày 23 tháng 02  năm 2016, Tổng cục thuế ban hành Công văn 675/TCT-KK gửi Cục Thuế tỉnh Long An về vấn đề hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư vừa đầu tư vào SXKD không chịu thuế GTGT, vừa đầu tư vào SXKD chịu thuế GTGT. Đại lý thuế Công Minh xin chia sẻ lại toàn bộ nội dung công văn như sau:

Nội dung Công văn 675/TCT-KK

Trả lời công văn số 2684/CT-THNVDT ngày 29/12/2015 của Cục Thuế tỉnh Long An về việc hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) của dự án đầu tư, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Căn cứ Khoản 2 và Điểm c Khoản 4 Điều 14 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng;

Căn cứ Điểm b Khoản 9 Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;

Đối với các doanh nghiệp vừa sản xuất, kinh doanh hàng hoá dịch vụ chịu thuế GTGT và vừa sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT đã được quy định chi tiết tại Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 và Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ Tài chính nêu trên. Liên quan đến nội dung này, Tổng cục Thuế đã có công văn số 3262/TCT-KK ngày 13/8/2015 về việc hoàn thuế GTGT gửi Cục Thuế tỉnh Long An. Đề nghị Cục Thuế tỉnh Long An nghiên cứu, hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện.

Liên quan đến nội dung vướng mắc nêu tại Công văn số 2684/CT-THNVDT ngày 29/12/2015 của Cục Thuế tỉnh Long An, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Trường hợp người nộp thuế đang trong giai đoạn đầu tư, chưa phát sinh doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, có thay đổi ngành nghề kinh doanh từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT (hoặc vừa sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT, vừa sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT) sang hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT và cam kết số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư là để phục vụ hoàn toàn cho hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT phù hợp với ngành nghề sản xuất kinh doanh đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và nội dung đầu tư đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư (đã được đăng ký thay đổi) thì được kê khai tạm khấu trừ, hoàn thuế đối với toàn bộ số thuế GTGT đầu vào đã có cam kết phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT nếu đáp ứng được các điều kiện khấu trừ, hoàn thuế GTGT theo quy định.

Trường họp sau đó, doanh nghiệp phát sinh doanh thu bán hàng hoá dịch vụ trong đó vừa có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT, vừa có sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT thì doanh nghiệp phải xác định lại số thuế GTGT được khấu trừ, không được khấu trừ, được hoàn, không được hoàn trong giai đoạn đầu tư và điều chỉnh theo tỷ lệ (%) giữa doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT so với tổng doanh thu của hàng hoá, dịch vụ bán ra trong ba năm kể từ năm đầu tiên có doanh thu. Doanh nghiệp phải kê khai điều chỉnh giảm sổ tiền thuế GTGT đã khấu trừ, được hoàn thuế trong giai đoạn đầu tư không đủ điều kiện kê khai khấu trừ, hoàn thuế tương ứng và nộp vào ngân sách nhà nước, tính tiền chậm nộp (nếu có). Trường hợp cơ quan thuế qua thanh tra, kiểm tra phát hiện sẽ thực hiện truy thu, truy hoàn và xử phạt theo quy định. Doanh nghiệp phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về các nội dung đã báo cáo, cam kết giải trình với cơ quan thuế liên quan đến việc khấu trừ, hoàn thuế GTGT trong giai đoạn đầu tư.

Tải Công văn 675/TCT-KK

Công văn 675/TCT-KK Tại đây bản PDF
Mời các bạn tham khảo thêm một số công văn:

Công văn 620/TCT-CS về sử dụng hóa đơn GTGT sau sáp nhập

Ngày 28 tháng 01  năm 2016, Tổng cục thuế ban hành Công văn 620/TCT-CS gửi Cục Thuế thành phố Hà Nội về vấn đề vướng mắc về ử dụng hóa đơn GTGT đầu vào sau khi sáp nhập của công ty cổ phần Vinalinks. Đại lý thuế Công Minh xin chia sẻ lại toàn bộ nội dung công văn như sau:

Nội dung Công văn 620/TCT-CS

Trả lời công văn số 76404/CT-HTr ngày 02/12/2015 của Cục Thuế thành phô Hà Nội về sử dụng hóa đơn GTGT đầu vào sau khi sáp nhập, Tổng cục Thuế có ý kiên như sau:

Căn cứ hướng dẫn tại Điều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 về điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào;

Tại khoản 1 Điểu 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 6 Thông tư số 119/2014/TT-BTC và Điều 1 Thông tư số 151/2014/TT-BTC) như sau:

Điều 6. Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuê

1. Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

b) Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.

c) Khoản chi nếu có hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt…”.

Căn cứ hướng dẫn tại Điều 20 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

Căn cứ hướng dẫn trên, Tổng cục Thuế thống nhất với đề xuất xử lý của Cục Thuế thành phố Hà Nội, để tạo điều kiện cho Công ty cổ phần Vinlinks đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục, chấp thuận những hóa đơn đầu vào phát sinh trong tháng 7 năm 2015 mang tên Công ty cổ phần chuyển phát nhanh Họp Nhất theo các hợp đồng đã ký kết đang thực hiện dở dang hoặc do quá trình chuyến đổi các thông tin chưa hoàn tất, Công ty cổ phân Vinlinks được kê khai, khấu trừ thuế GTGT nếu đáp ứng điều kiện tại Điều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 về điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào và được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp nếu đáp ứng điều kiện nêu tại khoản 1 Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 về các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuê thu nhập doanh nghiệp.

Trường hợp sau tháng 7/2015, Công ty cổ phần Vinlinks vẫn tiếp tục nhận được các hóa đơn GTGT đầu vào mang tên Công ty cổ phần Chuyển phát nhanh Hợp Nhất thì đề nghị Ọông ty và người bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thực hiện xử lý đôi với hóa đơn đã lập có sai sót theo hướng dẫn tại Điều 20 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính.

Tải Công văn 620/TCT-CS

Công văn 620/TCT-CS tại đây bản PDF
Mời các bạn tham khảo thêm một số công văn:

Công văn 671/TCT-CS về chính sách thuế TNDN

Ngày 23 tháng 02  năm 2016, Tổng cục thuế ban hành Công văn 671/TCT-CS gửi Cục Thuế tỉnh Sơn La về vấn đề chính sách thuế TNDN đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động khuyết tật. Đại lý thuế Công Minh xin chia sẻ lại toàn bộ nội dung công văn như sau:

Nội dung Công văn 671/TCT-CS

Trả lời công văn số 64/CT-TTHT ngày 15/01/2016 của Cục Thuế tỉnh Sơn La về chính sách thuế TNDN đối với Công ty cổ phần thương binh 30/4, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

– Tại Khoản 12 Điều 1 Luật số 32/2013/QH13 ngày 19/06/2013 sửa đồi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định:

“12. Điêu 18 được sửa đối, bô sung như sau:

“Điều 18. Điều kiện áp dụng ưu đãi thuế

1. Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại các điều 13, 14, 15, 16 và 17 của Luật này áp dụng đổi với doanh nghiệp thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ và nộp thuế theo kê khai. ”

– Tại Khoản 5 Điều 3 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/06/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định phương pháp tính thuế như sau:

“5. Đơn vị sự nghiệp, to chức khác không phải là doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp có hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuê thu nhập doanh nghiệp mà các đơn vị này xác định được doanh thu nhưng không xác định được chỉ phí, thu nhập của hoạt động kỉnh doanh thì kê khai nộp thuê thu nhập doanh nghiệp tính theo tỷ lệ % trên doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ, cụ thê như sau:

+ Đôi với dịch vụ (bao gồm cả lãi tiền gửi, lãi tiền cho vay): 5%.

Riêng hoạt động giáo dục, y tế, biếu diên nghệ thuật: 2%.

+ Đôi với kinh doanh hàng hoả: 1%.

+ Đổi với hoạt động khác: 2%.

– Tại Khoản 1 Điều 18 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngàỵ 18/06/2014 của Bộ Tài chính nêu trên, quy định điều kiện áp dụng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:

“1. Các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ áp dụng đôi với doanh nghiệp thực hiện chế độ kế toán, hoả đơn, chứng từ và nộp thuê thu nhập doanh nghiệp theo kê khai. ”

Tại Khoản 4 Điều 8 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/06/2014 của Bộ Tài chính quy định về thu nhập được miễn thuế như sau:

4. Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoả, dịch vụ của doanh nghiệp cổ sổ lao động là người khuyết tật, người sau cai nghiên ma tuý, người nhiêm HIV bình quân trong năm chiếm từ 30% trở lên trong tổng sổ lao động bình quân trong năm của doanh nghiệp.

Thu nhập được miễn thuế quy định tại Khoản này không bao gồm thu nhập khác quy định tại Điều 7 Thông tư này.

Doanh nghiệp thuộc diện được miễn thuế quy định tại Khoản này ỉà doanh nghiệp có số lao động bình quân trong năm ít nhât từ 20 người trở lên và không bao gom các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chỉnh, lánh doanh bât động sản.

Doanh nghiệp cỏ thu nhập được miễn thuế theo quy định tại Khoản này phải đáp ứng đủ các điểu kiện sau:

a) Đối với doanh nghiệp có sử dụng lao động là người khuyết tật (bao gồm cả thương binh, bệnh hỉnh) phải có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyển vê sô lao động là người khuyết tật…

Căn cứ các quy định nêu trên, Công ty CP thương binh 30/4 không thuộc trường hợp kê khai nộp thuế TNDN theo tỷ lệ % trên doanh thu. Công ty CP thương binh 30/4 được hưởng ưu đãi miễn giảm thuế TNDN theo diện doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật nếu đáp ứng quy định tại Khoản 4 Điều 8 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/06/2014 của Bộ Tài chinh và thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn;chứng từ và nộp thuế TNDN theo phương pháp kê khai. Cục Thuế tỉnh Sơn La hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ và kê khai nộp thuế TNDN theo phương pháp kê khai để có căn cứ xác định phần thu nhập được hưởng ưu đãi thuế theo quy định của pháp luật.

Tải Công văn 671/TCT-CS

Công văn 671/TCT-CS  Tại đây bản PDF
Mời các bạn tham khảo thêm một số công văn:

Công văn 670/TCT-CS về chính sách thuế GTGT

Ngày 23 tháng 02  năm 2016, Tổng cục thuế ban hành Công văn 670/TCT-CS gửi Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh. về vấn đề chính sách thuế GTGT đối với giá xăng dầu bán thấp hơn so với giá vốn. Đại lý thuế Công Minh xin chia sẻ lại toàn bộ nội dung công văn như sau:

Nội dung Công văn 670/TCT-CS

Tổng cục Thuế nhận được công văn số 12105/CT-KTNB ngày 4/12/2015, công văn sổ 8988/CT-KTNB của Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết khiếu nại của Công ty cổ phần Xăng Dầu và Dịch Vụ Hàng Hải S.T.S. về vân đê này, sau khi báo cáo và được sự chấp thuận của Bộ Tài chính, Tống cục Thuế có ý kiến như sau:

Tại Điều 10, Điều 11 Luật Thương Mại số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005 có quy định:

“Điều 10. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương mại

Thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương mại.

Điều 11. Nguyên tắc tự do, tự nguyện thoả thuận trong hoạt động thương mại

1. Các bên có quyên tự do thoả thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuân phong mỹ tục và đạo đức xã hội đế xác lập các quyên và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyển đó.

2. Trong hoạt động thương mại, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào

Tại Khoản 4 Điều 9; Điểm a, Điểm b Khoản 1, Khoản 2 Điều 27 Nghị định số 84/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính Phủ quy định về kinh doanh xăng dầu:

“Điều 9. Quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khấu xăng dầu

4. Chấp hành các quy định và chịu trách nhiệm về giá, số lượng, chất lượng xăng dâu bán ra trên thị trường.

Điều 27. Giả bản xăng dầu.

1. Nguyên tắc quản lý giả bán xăng dầu

a) Giả bán xăng dầu được thực hiện theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước;

Thương nhân đầu mối được quyền quyết định giá bán buôn; việc điều chỉnh giá bán ỉẻ xăng dâu được thực hiện theo nguyên tăc, trình tự quy định tại Điều này; có trách nhiệm tham gia bình ổn giả theo quy định của pháp luật hiện hành và được bù đắp lại những chi phí hợp ỉỷ khi tham gia bình ôn
gia.

Theo trình bày của Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh: Công ty S.T.S là đơn vị bán buôn xăng dầu, việc quyết định giá bán không trái quy định của Luật Thương Mại số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005 và Điểm b Khoản 1 Điều 27 Nghị định 84/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính Phủ quy định vê kinh doanh xăng dầu. Công ty S.T.S lựa chọn phương án kinh doanh trong điêu kiện tình hình tài chính khó khăn: Công ty phải bán một phần sổ lượng xăng dâu dưới giá vốn nhàm thu hồi vốn lưu động để trả nợ và nhập hàng kinh doanh mới có tỷ suất lợi thuận; bán hàng tồn kho không bán được và xuất bán xăng dầu do giảm giá theo thông cáo của Tông công ty Xăng Dâu Việt Nam nhưng kêt quả kinh doanh năm 2011 và 2012 vẫn đạt lợi nhuận.

Việc bán dưới giá vốn đều là với Công ty TNHH MTV Xăng dầu Quân đội (MIPEC), đề nghị CụcThuế thành phổ Hồ Chí Minh làm rõ mối quan hệ giữa STS và MIPEC (có phải là quan hệ độc lập /mua đứt bán đoạn hay là quan hệ đại lý). Trường họp nếu đảm bảo là quan hệ độc lập thì Cục Thuế khảo sát giá bán của một số đơn vị trên địa bàn về giá mua vào, bán ra tại thời điêm có thông báo thay đổi giá của Tập đoàn xăng dầu Việt Nam để xác định giá bán của Công ty S.T. s cho Công ty TNHH MTV Xăng dầu Quân đội (MIPEC) nếu giá bán phù hợp với mức giá theo thông báo của Tống công ty Xăng Dầu Việt Nam thì thống nhất với ý kiến xử lý của Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh tại công văn số 12105/CT-KTNB ngày 4/12/2015 về việc xử lý khiếu nại của doanh nghiệp theo quy định và tình hình thực tế của công ty nêu trên.

Tải Công văn 670/TCT-CS

Công văn 670/TCT-CS  Tại đây bản PDF
Mời các bạn tham khảo thêm một số công văn:

Công văn 667/TCT-HTQT về Hiệp định thuế

Ngày 23 tháng 02  năm 2016, Tổng cục thuế ban hành Công văn 667/TCT-HTQT gửi Công ty TNHH Posco Việt Nam về vấn đề áp dụng Hiệp định thuế giữa Việt Nam và Hàn Quốc đối với phí bảo lãnh. Đại lý thuế Công Minh xin chia sẻ lại toàn bộ nội dung công văn như sau:

Nội dung Công văn 667/TCT-HTQT

Tổng cục Thuế nhận được công văn số 429/2015/CV-PVN ngày 17/11/2015 của Công ty TNHH Posco Việt Nam {sau đây gọi là Posco VN) đề nghị hướng dẫn vê việc áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và Hàn Quốc {sau đây gọi là Hiệp định) đối với phí dịch vụ bảo lãnh khoản vay. về vấn đề này, sau khi báo cáo và có ý kiến của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế trả lời Posco VN như sau:

1. Về việc xác định phí dịch vụ bảo lãnh có phải là lãi tiền vay:

– Khoản 5, Điều 11 (Lãi tiền cho vay) của Hiệp định định nghĩa về “lãi tiền cho vay” như sau:

5. Thuật ngữ “lãi tiền cho vay” dùng ở Điều này có nghĩa là thu nhập từ các khoản tiên cho vay dưới bất kỳ dạng nào, có hay không được đảm bảo băng thê châp và có hoặc không cỏ quyển được hưởng lợi tức của người đi vay, và đặc biệt là khoản thu nhập từ chứìĩg khoán Chính phủ và thu nhập từ trái phiếu hoặc trái phiêu thông thường, bao gồm cả tiền thưởng và giải thưởng đi liên với các chứng khoán, trải phiêu hoặc trái phiếu thông thường đó

– Khoản 18, Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 quy định:

“75. Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đỏ tô chức tín dung cam kêt với bên nhân bảo ỉãnh về việc tố chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đây đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tô chức tín dụng theo thỏa thuận.

Như vậy, trường hợp Posco Hàn Quốc cung cấp dịch vụ bảo lãnh đôi với Họp đồng vay dài hạn giữa Posco VN và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn Quốc thì thu nhập từ phí bảo lãnh khoản vay không phải là thu nhập từ lãi tiền cho vay.

2. Về việc áp dụng nội luật:

– Về thuế GTGT:

Theo quy định của Khoản 1, Điều 1, Luật sửa đôi, bô sung một sô điêu cua Luật thuế GTGT số 31/2013/QH13, Điều 4, Thông tư sổ 219/2013 ngày 31/12/2013 và điểm 2.a), Điều 12, Mục 3, Chương II, Thông tư số 103/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính, Posco Hàn Quốc phải nộp thuế GTGT tại Việt Nam đối với dịch vụ bảo lãnh với tỷ lệ % để tính thuế GTGT là 5% trên doanh thu đối với ngành kinh doanh dịch vụ.

– Về thuế TNDN:

Theo quy định tại Điểm 2.a), Điều 13, Mục 3, Chương II, Thông tư số 103/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính, Posco Hàn Quốc phải nộp thuế TNDN tại Việt Nam với tỷ lệ (%) thuế TNDN tính trên doanh thu tính thuế là 5% đối với ngành kinh doanh dịch vụ.

3. Về việc áp dụng Hiệp định:

Theo quy định tại Điều 7 (Lợi tức doanh nghiệp) của Hiệp định:

“7. Lợi tức của xí nghiệp tại một Nước ký kết sẽ chỉ chịu thuế tại Nước đó, trừ trường hợp xí nghiệp có tiến hành hoat đôn2 kinh doanh tại Nước ký kêt kia thông qua môt cơ sở thường trú tại Nước kia. Neu xí nghiệp có hoạt động kinh doanh theo cách trên, thì các khoản lợi tức của xí nghiệp có thê bị đánh thuê tại Nước kia, nhưng chỉ trên phần lợi tức phân bo cho cơ sở thường trú đó”

Căn cứ quy định nêu trên, thu nhập từ Hợp đồng bảo lãnh của Posco Hàn Quốc thu sẽ phải chịu thuế TNDN tại Việt Nam nếu Posco Hàn Quốc tiến hành hoạt động bảo lãnh tại Việt Nam thông qua một cơ sở thường trú tại Việt Nam.

Trường hợp trong quá trình thực hiện các Hợp đồng với Posco Việt Nam, Posco Hàn Quốc thoả mãn 3 điều kiện hình thành cơ sở thường trú quy định tại Khoản 1 và Khoản 2, Điều 5 (Cơ sở thường trú) của Hiệp định thuế giữa Việt Nam và Hàn Quốc (hướng dân tại điếm 1.2.1 và điếm 1.2.2.a), Điều 11, Mục 2, Chương

II, Thông tư số 205/2013/TT-BTC ngày 24/12/2013 của Bộ Tài chính), Posco Hàn Quốc sẽ được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam. Đồng thời, nếu Posco Hàn Quốc tiến hành cung cấp dịch vụ bảo lãnh thông qua cơ sở thường trú đó thì Posco Hàn Quốc phải nộp thuế TNDN tại Việt Nam trên phần lợi tức phân bổ cho cơ sở thường trú đó.

Trường hợp trong quá trình thực hiện các Hợp đồng với Posco Việt Nam, Posco Hàn Quốc không hình thành cơ sở thường trú tại Việt Nam thì thu nhập Posco Hàn Quốc thu được từ việc thực hiện Họp đồng bảo đảm khoản vay ở nước ngoài (Họp đồng 2) sẽ không phải chịu thuế TNDN tại Việt Nam. Trong trường họp này, Posco Hàn Quốc hoặc đại diện được uỷ quyền có nghĩa vụ nộp cho Cục Thuế tỉnh Bà rịa – Vũng tàu hồ sơ thông báo áp dụng Hiệp định theo hướng dẫn tại Điều 20, Chương II, Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính.

Tải Công văn 667/TCT-HTQT

Công văn 667/TCT-HTQT Tại đây bản PDF
Mời các bạn tham khảo thêm một số công văn:

Công văn 614/TCT-CS về trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán

Ngày 22 tháng 02  năm 2016, Tổng cục thuế ban hành Công văn 614/TCT-CS gửi Cục Thuế Thành phố Hà Nội về vấn đề vvề trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán chưa được niêm yết. Đại lý thuế Công Minh xin chia sẻ lại toàn bộ nội dung công văn như sau:

Nội dung Công văn 614/TCT-CS

Tổng cục Thuế nhận được công văn số 365/2015/VNDS-KT ngày 25/12/2015 của Công ty cô phân chứng khoán VNDirect vê xử lý vi phạm pháp luật vê thuê đôi với việc trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán chưa niêm yết. về vấn đề này, sau khi báo cáo Lãnh đạo Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

– Tại khoản 3 Điều 103 Luật Quản lý thuế thì hành vi vi phạm pháp luật về thuế của người nộp thuế bao gồm: “3. Khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền ứìuế được hoàn“.

– Tại khoản 2 Điều 109 Luật quản lý thuế quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm pháp luật về thuế: “2. Đối với hành vi quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 103 của Luật này thì thủ trưởng cơ quan quản lý thuế, Cục trưởng Cục điều tra chống buôn lậu, Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan thuộc Tổng cục Hải quan có thấm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm pháp luật về thuế“.

– Tại Thông tư số ll/2000/TT-BTC ngày 01/02/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với công ty chứng khoán cổ phần và trách nhiệm hữu hạn.

– Tại Thông tư số 228/2009/TT-BTC ngày 7/12/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tốn thất các khoản đầu tư tài chính, nợ khó đòi và bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp tại doanh nghiệp.

– Tại Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ Tài chính về thuế thu nhập doanh nghiệp quy định doanh nghiệp được tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN khoản trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán trừ những khoản trích lập dự phòng không theo đúng hướng dẫn của Bộ Tài chính.

– Tại Điều 7 Thông tư số 146/2014/TT-BTC ngày 6/10/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ tài chính đối vói công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ hướng dẫn về dự phòng giảm giá chứng khoán.

Căn cứ quy định nêu trên, tại thời điếm năm 2013, do quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về việc trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán chưa niêm yết (OTC) của công ty chứng khoán tại thời điếm này (Thông tư 228/2009/TT-BTC, Thông tư 100/2004/TT-BTC, Thông tư 11/2000/TT-BTC) chưa cụ thể nên công ty chứng khoán đã thực hiện trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán OTC dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp nhưng khi cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra phát hiện, công ty đã nộp đầy đủ số tiền thuê thiêu vào NSNN thì công ty không bị xử phạt vi phạm pháp luật về thuế đối với việc trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán OTC.

Từ năm 2014, việc trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán OTC được áp dụng theo quy định tại Thông tư số 146/2014/TT-BTC ngày 6/10/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ tài chính đối với công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ.

Tải Công văn 614/TCT-CS

Công văn 614/TCT-CS Tại đây bản PDF
Mời các bạn tham khảo thêm một số công văn:

Công văn 833/TCT-KK về chứng từ thanh toán qua ngân hàng

Ngày 22 tháng 02 năm 2016, Tổng cục thuế ban hành Công văn 833/TCT-KK gửi Cục Thuế tỉnh Bình Dương về vấn đề vướng mắc chứng từ thanh toán qua ngân hàng cho hàng nhập khẩu khi thanh toán qua bên thứ 3. Đại lý thuế Công Minhxin chia sẻ lại toàn bộ nội dung công văn như sau:

Nội dung Công văn 833/TCT-KK

Tổng cục Thuế nhận được công văn số 11889/CT-TT&HT ngày 26/10/2015 của Cục Thuế tỉnh Bình Dương về việc chứng từ thanh toán tiền hàng nhập khẩu cho trường họp Công ty TNHH Việt Nam Mỹ Thanh thanh toán tiền hàng vào tài khoản của một cá nhân ở nước ngoài, về vấn đề này, sau khi báo cáo Bộ Tài chính,Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Căn cứ Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt.

Căn cứ quy định tại Khoản 1 ,2 ,3 ,4c Điều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chinh quy đinh về điều kiện khấu trừ đầu vào.

Căn cứ khoản 6b, Điều 3 Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 của Bộ Tài chính về chứng từ thanh toán qua ngân hàng.

Chứng tò thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng được coi là hợp lệ và đủ điều kiện khấu trừ đầu vào, hoàn thuế và tính vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN là các chứng từ thanh toán không trái với quy định tại Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính-Phủ”và đảm bảo các điều kiện theo quy định tại khoản 1; 2; 3; 4c Điều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính; Khoản 6c, Điều 3 Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 của Bộ Tài chính.

Trường họp Công ty TNHH Việt Nam Mỹ Thanh thực hiện thanh toán hợp đồng nhập khẩu với người bán qua ngân hàng vào tài khoản của bên thứ ba theo chỉ định của người bán được quy định trong hợp đồng là một cá nhân người nước ngoài, mở tài khoản tại nước ngoài, không có mặt tại Việt Nam thì chứng từ thanh toán qua ngân hàng nêu trên không đủ điều kiện để khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào theo quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng

Tải Công văn 833/TCT-KK

Công văn Công văn 833/TCT-KK Tại đây bản PDF
Mời các bạn tham khảo thêm một số công văn:

Công văn 445/TCT-CS về thu thuế tài nguyên

Ngày 28 tháng 01  năm 2016, Tổng cục thuế ban hành Công văn 445/TCT-CS gửi Cục Thuế tỉnh Quảng Trị vấn đề vướng mắc về thu thuế tài nguyên môi trường. Đại lý thuế Công Minh xin chia sẻ lại toàn bộ nội dung công văn như sau:

Nội dung Công văn 445/TCT-CS

Trả lời Công văn số 7631/CT-THNVDT ngày 17/12/2015 của Cục Thuế tỉnh Quảng Trị về thu thuế tài nguyên đối với cát, sỏi đối với hộ gia đình, cá nhân kinh doanh thu mua gom từ những người khai thác nhỏ lẻ, Tổng cục Thuế có ý kiên như sạu:

– Tại khoản 2, Điều 13 Thông tư số 152/2015/TT-BTC ngày 02/10/2015 của Bộ Tài chính về thuế tài nguyên quy định: “2. Thông tư này có hiệu lực thỉ hành từ ngày 20/11/2015 thay the Thông tư số 105/2010/TT-BTC ngày 23/7/2010 của Bộ Tài chính.’1’1

– Tại Điều 14 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ quy định: “7. Trách nhiệm nộp hồ sơ khai thuế tài nguyên cho cơ quan thuê:… b) Tô chức, cá nhân thu mua tài nguyên đăng ky nôp thuế tài nguyên thay cho tô chức, cá nhân khai thác nhỏ lẻ thì thực hiện nộp hồ sơ khai thuế tài nguyên cho cơ quan thuế quản lỷ trực tiếp cơ sở thu mua tài nguyên.

… 2. Khai thuế tài nguyên (trừ dầu thô) là loại khai theo tháng và khai puyêt toán năm hoặc khai quyết toán đến thời điếm có quyết định về việc doanh nghiệp thực hiện chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyến đối hình thức sở hữu, giải thê, chấm dứt hoạt động. ”

Căn cứ quy định nêu trên, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh có sản lượng cát, sỏi thu gom của người khai thác nhỏ lẻ, thuộc diện kê khai nộp thuế tài nguyên phát sinh trước ngày Thông tư số 152/2015/TT-BTC có hiệu lực thi hành (ngày 20/11/2015), nhưng chưa khai nộp thuế thì tiếp tục khai nộp thuế tài nguyên theo các văn bản áp dụng trước ngày Thông tư số 152/2015/TT-BTC có hiệu lực.

Tải Công văn 445/TCT-CS

Công văn 445/TCT-CS Tại đây bản PDF
Mời các bạn tham khảo thêm một số công văn:

Công văn 444/TCT-KK về hoàn thuế giá trị gia tăng

Ngày 28 tháng 01  năm 2016, Tổng cục thuế ban hành Công văn 444/TCT-KK gửi Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp vấn đề vướng mắc về hoàn thuế giá trị gia tăng. Đại lý thuế Công Minh xin chia sẻ lại toàn bộ nội dung công văn như sau:

Nội dung Công văn 444/TCT-KK

rả lời công văn số 1853/CT-KTNB ngày 27/11/2015 của Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp về việc hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) của Công ty TNHH một thành viên khách sạn Huỳnh Đức, sau khi báo cáo và được sự đồng ý của Bộ Tài chính, Tống cục Thuế có ý kiến như sau:

Căn cứ Khoản 3, khoản 4 Điều 65 Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005; ‘ .

Căn cứ khoản 10 Điều 2 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/1/2006 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai;

Căn cứ khoản 3 Điều 9 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

Căn cứ Điều 14, Điều 15, khoản 1 Điều 18, khoản 1 Điều 19 Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế GTGT; Điều 14, Điều J 5 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế GTGT; khoản 9 Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 của Bộ Tài chính, thì:

Trường họp Công ty TNHH một thành viên khách sạn Huỳnh Đức đầu tư xây dựng công trình khách sạn Huỳnh Đức trên đất mượn của bà Huỳnh Thị Kim Hương và đưa khách sạn Huỳnh Đức vào sử dụng từ ngày 13/11/2013, hợp đồng mượn đất giữa Công ty TNHH một thành viên khách sạn Huỳnh Đức – đại diện là bà Huỳnh Thị Kim Hương và bà Huỳnh Thị Kim Hương không có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của ƯBND xã, phường, thị trấn theo quy định, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất người sử dụng là bà Huỳnh Thị Kim Hương; ngày 14/2/2015 người sử dụng đất đổi tên thành Công ty TNHH một thành viên khách sạn Huỳnh Đức thì Công ty TNHH một thành viên khách sạn Huỳnh Đức không đủ điều kiện để được hoàn thuế GTGT kỳ từ tháng 4/2012 đến tháng 12/2013 đối với dự án đầu tư công trình khách sạn Huỳnh Đức, số thuế GTGT đầu vào của công trình này doanh nghiệp được khấu trừ trong quá trình sản xuất kinh doanh theo quy định.

Đe nghị Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp kiểm tra nếu Công ty TNHH một thành viên khách sạn Huỳnh Đức sử dụng toàn bộ công trình khách sạn Huỳnh Đức vào sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT thì số thuế GTGT đầu vào của công trình xây dựng khách sạn Huỳnh Đức doanh nghiệp được khấu trừ toàn bộ; trường hợp Công ty TNHH một thành viên khách sạn Huỳnh Đức chỉ sử dụng một phần công trình khách sạn Huỳnh Đức vào sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT thì doanh nghiệp chỉ được khấu trừ thuế GTGT đầu vào của công trình khách sạn Huỳnh Đức tương ứng với diện tích sử dụng cho sản xuât kinh doanh chịu thuế GTGT.

Tải Công văn 444/TCT-KK

Công văn 444/TCT-KK  Tại đây bản PDF
Mời các bạn tham khảo thêm một số công văn:

Công văn 407/TCT-KK về hoàn trả tiền án phí, phí thi hành án

Ngày 27 tháng 01  năm 2016, Tổng cục thuế ban hành Công văn 407/TCT-KK gửi Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vấn đề vướng mắc về đề nghị hoàn trả tiền án phí, phí thi hành án. Đại lý thuế Công Minh xin chia sẻ lại toàn bộ nội dung công văn như sau:

Nội dung Công văn 407/TCT-KK

Căn cứ quy định tại Khoản 6.1 Mục I Phần A Thông tư số 128/2008/TT-BTC ngày 24/12/2008 của Bộ Tài chính về các trường hợp được hoàn trả khoản thu NSNN;

Căn cứ quy định tại Khoản 6 Điều 4 Thông tư số 144/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 22/9/2010 của Bộ Tài chính – Bộ Tư pháp hướng dẫn về chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án dân sự;

Căn cứ quy định tại Khoản 4 Điều 6 Thông tư số 22/2011/TT-BTP ngày 02/12/2011 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số thủ tục trong quản lý hành chính về thi hành án dân sự;

Căn cứ quy định tại Điều 1, Điểm b Khoản 1 Điều 2, Điều 33 và Điều 57 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2015 của Bộ Tài chính;

Tại Công văn số 1018/THA ngày 18/7/2007 của Cục Thi hành án dân sự (nay là Tổng cục Thi hành án dân sự) hướng dẫn việc xử lý số tiền đã thu nộp NSNN nhưng sau đó có quyết định hoàn trả lại cho đối tượng đã nộp;

Tại Công văn số 107/TCTHADS-KHTC ngày 12/01/2016 của Tổng cục Thi hành án dân sự về việc hoàn trả tiền án phí, phí thi hành án dân sự hướng dẫn sửa đổi một số nội dung Công văn số 1018/THA ngày 18/7/2007:

“1. Nội dung hướng dẫn “Hồ sơ đề nghị hoàn trả khoản án phí, phí thi hành án gửi cho Bộ Tài chỉnh ” tại Khoản 2 Mục II Phần A Công văn số 1018/THA được sửa đoi như sau: “Hô sơ để nghị hoàn trả khoản ản phí, phí thỉ hành án gửi cho cơ quan thuế”.

2. Về biểu mẫu :

Áp dụng Mầu so 01/ĐNHT (Giấy đề nghị hoàn trả khoản thu ngân sách nhà nước) ban hành kèm theo Thông tư sô 156/2013/TT-BTC ngày 06 tháng 11 năm 2013 của Bộ Tài chính thay thế Mân sô 01 (Giây đê nghị hoàn trả sô thu đã nộp ngân sách nhà nước) tại Công văn số 1018/THA.”

Căn cứ các quy định và hướng dẫn nêu trên, đồng thời đế thống nhất áp dụng các quy định trong lĩnh vực thuế và lĩnh vực tư pháp: Trường hợp cơ quan Thuế nhận được Giấy đề nghị hoàn trả các khoản án phí, phí thi hành án đã nộp NSNN của Cục Thi hành án, Chi cục Thi hành án do cơ quan Thuế quản lý thì cơ quan Thuế thực hiện đối chiếu hồ sơ đề nghị hoàn trả và giải quyết hoàn trả khoản thu NSNN theo quy định.

Tải Công văn 407/TCT-KK

Công văn 407/TCT-KK  Tại đây bản PDF
Mời các bạn tham khảo thêm một số công văn: