Home » Tin tức » Thuế » Thuế TNCN » Tổng hợp các khoản thu nhập không chịu thuế TNCN

Tổng hợp các khoản thu nhập không chịu thuế TNCN

Khi thực hiện công tác quyết toán thuế TNCN cho người lao động, có một số quy định về các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công không phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN. Bài viết này sẽ tổng hợp một số điểm cần lưu ý về các khoản thu nhập không chịu thuế TNCN của người lao động trong năm 2014.

1.Đối với tiền ăn ca.

Theo Thông tư 111/2013/TT-BTC tại Điều 2, Khoản 2, Điểm g, Tiết g5 quy định về không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN đối với những khoản sau:

Trường hợp người sử dụng lao động không tổ chức bữa ăn giữa ca, ăn trưa mà chi tiền cho người lao động thì không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân nếu mức chi phù hợp với hướng dẫn của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Trường hợp mức chi cao hơn mức hướng dẫn của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì phần chi vượt mức phải tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.”

Hiện nay, Bộ Lao Động quy định phụ cấp ăn ca là 680.000đồng/người/tháng tại TT số10/2012/TT-BLĐTBXH ngày 26/04/2012. Số tiền ăn ca mà doanh nghiệp chi tiền cho người lao động từ 680.000 đồng trở xuống thì không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN. Nếu doanh nghiệp chi tiền ăn ca cao hơn 680.000 đồng thì phần chênh lệch cao hơn 680.000 đồng phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.

2. Đối với chi phí trang phục:

Theo Thông tư 111/2013/TT-BTC tại Điều 2, Khoản 2, Điểm đ, Tiết đ4 quy định về không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN đối với những khoản sau:

đ.4) Phần khoán chi văn phòng phẩm, công tác phí, điện thoại, trang phục,… cao hơn mức quy định hiện hành của Nhà nước. Mức khoán chi không tính vào thu nhập chịu thuế đối với một số trường hợp như sau

đ.4.1) Đối với cán bộ, công chức và người làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, Đảng, đoàn thể, Hội, Hiệp hội: mức khoán chi áp dụng theo văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính.

đ.4.2) Đối với người lao động làm việc trong các tổ chức kinh doanh, các văn phòng đại diện: mức khoán chi áp dụng phù hợp với mức xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.”

Nếu một năm doanh nghiệp (DN) chi cho NLĐ chi phí trang phục bằng tiền là 5.000.000 đồng thì khoản chi 5.000.000 đồng này không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của NLĐ. Quy định mức khoán chi trang phục cho người lao động được quy định tại Thông tư 78/2014/TT-BTC tại Điều 6, Khoản 2, Điểm 2.6 quy định về các chi phí được trừ và không được trừ khi tính thuế TNDN

2.6.Phần chi trang phục bằng hiện vật cho người lao động không có hoá đơn, chứng từ; phần chi trang phục bằng tiền, bằng hiện vật cho người lao động vượt quá 05 (năm) triệu đồng/người/năm.

Trường hợp doanh nghiệp có chi trang phục cả bằng tiền và hiện vật cho người lao động thì mức chi tối đa để tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế không vượt quá 05 (năm) triệu đồng/người/năm.”

3. Chi phụ cấp điện thoại, văn phòng phẩm, công tác phí:

Theo Thông tư 111/2013/TT-BTC tại Điều 2, Khoản 2, Điểm đ, Tiết đ4 quy định về không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động nếu mức khoán chi phù hợp với quy định hiện hành.

Công ty khoán chi tiền điện thoại cho người lao động nếu được quy định cụ thể tại hợp đồng lao động và mức khoán chi này được thực hiện theo quyết định của Hội đồng quản trị hoặc giám đốc hội đồng thành viên (đối với doanh nghiệp) là thu nhập được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNCN.

Đối với mức khoán chi tiền công tác phí quy định Theo Thông tư 78/2014/TT-BTC tại Điều 6, Khoản 2, Điểm 2.8 quy định về các chi phí được trừ và không được trừ khi tính thuế TNDN

Trường hợp doanh nghiệp có khoán tiền đi lại và tiền ở cho người lao động thì được tính vào chi phí được trừ khoản chi khoán tiền đi lại và tiền ở theo quy định của Bộ Tài chính đối với cán bộ công chức, viên chức Nhà nước.

Mức khoản chi tiền công tác phí theo quy định của Bộ Tài chính đối với cán bộ công chức, viên chức Nhà Nước quy định tại Thông tư số 97/2010/TT-BTC

4) Thu nhập từ tiền công làm đêm, làm ngoài giờ :

– Thu nhập từ phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm việc trong giờ theo quy định của Bộ luật Lao động. Cụ thể như sau:

a.  Phần tiền lương, tiền công trả cao hơn do phải làm việc ban đêm, làm thêm giờ được miễn thuế căn cứ vào tiền lương, tiền công thực trả do phải làm đêm, thêm giờ trừ (-) đi mức tiền lương, tiền công tính theo ngày làm việc bình thường.

b. Tổ chức, cá nhân trả thu nhập phải lập bảng kê phản ánh rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ, khoản tiền lương trả thêm do làm đêm, làm thêm giờ đã trả cho người lao động. Bảng kê này được lưu tại đơn vị trả thu nhập và xuất trình khi có yêu cầu của cơ quan thuế.

Theo quy định tại Điều 106- Bộ Luật Lao Động số 10/2012/QH13 (hiệu lực 1/5/2013) :

“Điều 106. Làm thêm giờ

1. Làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động.

2. Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Được sự đồng ý của người lao động;

b) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm;”

5) Trợ cấp 1 lần khi sinh con, hưởng chế độ thai sản, dưỡng sức….

Theo Thông tư 111/2013/TT-BTC tại Điều 2, Khoản 2, Điểm b, Tiết b.6 quy định về các khoản phụ cấp, trợ cấp trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp sau:

“b.6) Trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, mức hưởng chế độ thai sản, mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau thai sản, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thất nghiệp và các khoản trợ cấp khác theo quy định của Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội.”

Vì vậy các khoản trợ cấp, phụ cấp quy định tại điều trên thì không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.

Tiếp theo

Hướng dẫn khai thuế đối với chi nhánh hạch toán phụ thuộc

Hướng dẫn khai thuế đối với chi nhánh hạch toán phụ thuộc

Trên thực tế, có nhiều đơn vị, công ty lập các chi nhánh tại các …